Chủ tịch đảng Việt Tân Hoàng Cơ Minh bỏ xác nơi xứ người

Động tác này có thể khiến toán trinh sát của bộ đội cách mạng Lào tưởng lầm là bọn phản động đã từ bỏ ý đồ xâm nhập, và sẽ chỉ bám theo, tấn công nhóm thổ phỉ chứ không tiếp tục truy đuổi. Như thế, nhóm thổ phỉ và Nguyễn Văn Hòa, Nguyễn Thế Minh sẽ trở thành mồi nhử, thành bia đỡ đạn cho cuộc “đông tiến”.

Hoàng Cơ Minh họp bàn cùng đồng bọn trước ngày xâm nhập.

Đêm hôm đó, bọn phản động không dám nổi lửa nấu cơm, mà chỉ nhai mì sống cầm hơi. Mờ sáng, khi sương mù còn dày đặc, cả bọn lên đường, khiêng theo Nguyễn Văn Hòa trong tình trạng nửa mê, nửa tỉnh vì mất máu. Đến trưa, tên cầm đầu nhóm thổ phỉ sau khi cùng Hoàng Cơ Minh xem lại bản đồ, thì gã đồng ý cho Nguyễn Văn Hòa, và “chủ tịch mặt trận quốc nội” Nguyễn Thế Minh theo chúng, quay lại biên giới Lào, Thái. Nhưng rất nhiều năm sau đó, chẳng ai còn nghe được bất cứ một tin tức gì về Minh và Hòa.

Mãi đến năm 1998, một thông tin nhỏ mới được tiết lộ trên một tờ báo của người Việt ở Mỹ. Ấy là một nông dân Lào khi vào rừng chặt cây làm nhà, đã gặp bọn phỉ đang rút lui. Nghe chúng nói chuyện, rằng tự dưng lãnh cái của nợ phải khiêng là Nguyễn Văn Hòa, nên chúng giết y chết. Mà nếu đã giết Hòa chết, thì dĩ nhiên phải giết cả Nguyễn Thế Minh.

Trở lại chuyện xâm nhập, khi bọn thổ phỉ vừa đi khỏi, Hoàng Cơ Minh cho các “quyết đoàn” rải ra, hình thành những cụm phòng ngự với mệnh lệnh súng ống trên tay sẵn sàng chiến đấu, không nấu cơm, không ra suối lấy nước, không giăng võng hay dựng lều. Suốt buổi chiều rồi cả đêm, bọn phản động thức trắng trong tâm trạng lo âu vì sợ bị tập kích.

Gần sáng, nghĩ là đã đánh lừa được toán truy đuổi, cả bọn lục tục kéo nhau lên đường. Đi khoảng 30 phút, Quyết đoàn trưởng Quyết đoàn Anh dũng là Khu Xuân Hưng nhận được tin báo, rằng dân đoàn trưởng Hà Hoài Hùng đã bỏ trốn cùng với chiếc balô đựng tiền, vàng của quyết đoàn.

Đây là trường hợp bỏ trốn thứ hai khiến Khu Xuân Hưng rất hoang mang vì từ lâu, Hà Hoài Hùng vẫn được Hoàng Cơ Minh tin cậy. Vì thế, một mặt, gã cử người lên bộ chỉ huy báo cho Hoàng Cơ Minh. Mặt khác, gã sai 4 dân đoàn viên quay lại tìm Hùng với mệnh lệnh “nếu không gọi về được thì lấy chiếc balô rồi bắn bỏ”.

Nhưng 4 gã dân đoàn viên vừa quay lưng, thì có tiếng AK và B40 nổ dồn dập ở phía xa. Điều này chứng tỏ bộ đội cách mạng Lào vẫn bám theo nhóm phản động, và Hà Hoài Hùng trên đường bỏ trốn, đã gặp họ.

Từ đó cho tới khi bị đánh tan tác, không còn ai nghe được tin gì về Hà Hoài Hùng.

Đã là ngày thứ 10 của cuộc xâm nhập, mà nhóm phản động vẫn chưa đến được tỉnh Sê Kông vì thiếu người dẫn đường, sự di chuyển dựa vào những tấm bản đồ do quân đội Mỹ vẽ từ năm 1972. Vì thế, có những đoạn chỉ cần lội xuống khe rồi đi vòng chừng 6 tiếng là đã vượt qua được dãy núi, nhưng chúng lại phải leo trèo suốt 2 ngày. Lương thực càng lúc càng cạn, bữa cơm 1 phần gạo thì có đến 3 phần củ rừng. Quần áo không giặt nên bốc mùi hôi hám. Hầu hết đều bị ghẻ do muỗi đốt, vắt cắn.

Việc Hà Hoài Hùng bỏ trốn – rồi sau đó súng nổ khiến Hoàng Cơ Minh hiểu rằng kế ly gián đã thất bại. Trước ngày lên đường, tin tình báo của nhóm thổ phỉ Lào cho biết trên địa bàn tỉnh Xa La Van, bộ đội cách mạng Lào có khoảng 1 trung đoàn, chưa kể dân quân, du kích địa phương. Quân số của một trung đoàn khoảng gần 3.000 người, được trang bị, tiếp tế đầy đủ trong lúc nhóm phản động chỉ hơn 100 tên nên nếu chạm nhau trực diện, thì chết là cái chắc.

Sáng ngày thứ 12 trong lúc các dân đoàn viên, kẻ loay hoay tháo võng, kẻ nấu cơm thì bất ngờ, có tiếng súng nổ dồn dập từ phía quyết đoàn đi đoạn hậu. Lợi dụng lúc bọn phản động đang chuẩn bị di chuyển, toán trinh sát bộ đội cách mạng Lào bất ngờ tập kích rồi nhanh chóng biến mất. Kiểm điểm lại, chỉ có Huỳnh Văn Tiến bị thương nặng vì mảnh B40.

Y tá Lý Hổ được gọi đến nhưng trước khi đến, “ủy viên trung ương mặt trận” Nguyễn Huy kéo Lý Hổ ra một góc, nói nhỏ vài câu. Băng vết thương cho Tiến xong, Lý Hổ chích cho gã một mũi thuốc. Vài phút sau, Tiến nấc lên, mắt trợn ngược. Lúc này, cả nhóm phản động thuộc

Quyết đoàn Anh dũng đều biết rằng Nguyễn Văn Tiến đã bị chích thuốc cho chết, để khỏi trở thành gánh nặng cho cả đoàn. Xác Nguyễn Văn Tiến bọc trong mảnh nylon, kéo lá rừng phủ lên vì chẳng còn thời gian đào huyệt. Tài sản của Tiến, mỗi gã lấy một vài món. Riêng phần cơm mà lẽ ra sẽ chia cho Nguyễn Văn Tiến ăn bữa sáng, thì dân đoàn viên Thạch Chen bỏ ngay vào trong balô.

Sau khi bị tập kích, bọn phản động được lệnh đi nhanh hơn nhưng tốc độ xem ra cũng chỉ được khoảng 3km mỗi giờ. Một phần vì địa thế hiểm trở, phần nữa vừa đi vừa dò dẫm. Suốt buổi sáng, tình hình yên tĩnh nhưng đến giữa trưa, đột ngột từng loạt đạn súng cối nổ tung giữa đội hình Quyết đoàn Anh dũng. Lúc này, bọn phản động đang ở trên một đỉnh núi.–PageBreak–

Khi nghe tiếng nổ, chúng nháo nhào xô nhau lao xuống, mạnh ai nấy chạy. Nhiều tên vứt cả balô, bao đựng đạn, có tên còn không kịp đi giày. Đoán được ý đồ của chúng, đạn cối chuyển làn, bắn đuổi theo khiến dân đoàn viên Trần Văn Thảo chết ngay tại chỗ.

Xuống đến lưng chừng núi, gặp một khe cạn, Hoàng Cơ Minh cho quân tản ra, rồi sai một bộ phận quay lại tìm Quyết đoàn Anh dũng. Dưới một con suối, xác dân đoàn viên Nguyễn Văn Hoàng nằm úp, Khu Xuân Hưng và toàn bộ những tên còn lại trong Quyết đoàn Anh dũng thì chẳng thấy đâu.

Sau này khi vào tù, chúng mới biết khi đạn cối nổ, Quyết đoàn trưởng Khu Xuân Hưng dẫn quân quay đầu chạy thẳng về phía tây – là hướng Thái Lan. Trên đường đi, Nguyễn Văn Hải đạp phải mìn, nát chân nên Khu Xuân Hưng đã bắn chết Nguyễn Xuân Hải. Lúc băng qua con suối, Quyết đoàn phó Nguyễn Minh Dục trượt chân té xuống, nước cuốn mất xác.

Dân đoàn trưởng Trần Văn Quốc đi đầu mở đường, bị một phát CKC bắn tỉa, vỡ sọ, còn Lê Thanh Tùng lãnh nguyên một băng AK. Riêng Khu Xuân Hưng cũng bị một viên vào bụng. Sợ các “chiến hữu” sẽ bắn mình để khỏi trở thành gánh nặng như mình đã bắn Nguyễn Văn Hải, Hưng tự sát, dân đoàn phó Nguyễn Văn Mi cùng các tên khác, bị dân quân du kích Lào bắt sống sau đó hai ngày.

Từ đây, Quyết đoàn Anh dũng coi như bị xóa sổ, và Quyết đoàn Bắc bình do Lê Đình Bảy chỉ huy trở thành bộ phận chặn hậu. Hai sự kiện nữa xảy ra khiến tinh thần cả bọn đã xuống dốc lại càng thêm xuống dốc: Ấy là trên đường tháo chạy, dân đoàn viên Nguyễn Văn Hợi đột ngột nằm vật xuống đất vì kiệt sức dù thân thể không một vết thương.

Ngay lập tức, Lê Đình Bảy ra lệnh cho các dân đoàn viên, lấy hết đồ đạc trong balô Hợi rồi bỏ mặc Hợi nằm đó. Một gã trong đoàn là Phạm Hoàng Tùng cầm bi đông đưa Hợi uống hớp nước, coi như vĩnh biệt. Hợi chết vì đói chứ chưa cần đến phát súng “ân huệ” hay mũi tiêm thuốc độc.

Lương thực mang theo càng cạn dần dù Hoàng Cơ Minh đã chỉ thị tiết kiệm đến mức tối đa, nên lúc tình cờ gặp một căn nhà sàn nhỏ của người Lào, dựng lên để trông coi rẫy và trong nhà có bao lúa, đám phản động quên cả việc đang bị truy đuổi, xúm nhau vào đâm, giã lấy gạo nấu cơm. Nhiều tên đói quá, không chờ được, bốc cả nắm thóc cho vào miệng nhai sống.

Gạo ít, chỉ nấu được vài nồi cháo nhỏ nên khi thấy dân đoàn viên Lê Văn Nguyên đi khập khiễng vì bắp chân trúng mảnh B40, mấy gã trong dân đoàn kéo Nguyên ra một góc, dùng báng súng đập chết, rồi moi gan Nguyên ra nướng, chia nhau ăn. Ngửi thấy mùi thơm, Quyết đoàn phó Nguyễn Ngọc Cường mò đến. Nghe đồng bọn nói là gan con heo rừng chết vì lạc đạn, Cường vừa xắn một miếng cho vào miệng, gần như nuốt chửng vì đói quá, vừa hỏi xác con heo ấy ở đâu, đi kéo về xẻ thịt, nướng ăn tiếp.

Sáng ngày thứ 15 của cuộc xâm nhập, lại có tin “dân đoàn trưởng” Phan Minh Mẫn thuộc Quyết đoàn Cải cách đào ngũ với một balô tiền, vàng. Đặng Quốc Hùng, Việt kiều từ Đan Mạch về, được lệnh lên thay. Ngang qua một rẫy khoai mì, mặc dù chưa có củ nhưng nhiều tên trong nhóm phản động vẫn xúm vào nhổ, rồi nhai sống cả rễ.

Dân đoàn viên Nguyễn Văn Dũng quá kiệt sức, khi ngồi xuống gốc mì thì không đứng dậy nổi. Cơ hội trả thù đã tới vì trước đây Dũng từng định bắn dân đoàn trưởng Đỗ Bạch Thố khi Thố phát hiện Dũng uống rượu, Thố quay lại, ra lệnh cho dân đoàn ai ở đâu thì ở nguyên đó, cấm quay đầu nhìn lại phía sau. Đến bên cạnh Dũng, Thố tháo dây giày, vòng qua cổ Dũng, xiết cho đến khi lưỡi Dũng lè ra, mắt trợn trừng.

Lúc này, Quyết đoàn Bắc bình vẫn giữ nhiệm vụ chặn hậu. Đang đi, đột ngột có lệnh từ Quyết đoàn trưởng Lê Đình Bảy truyền xuống, là bộ chỉ huy yêu cầu tất cả dân đoàn viên trong quyết đoàn nộp hết phần mì gói còn lại. Những gói mì này trước ngày lên đường xâm nhập, bọn phản động đã xé bỏ bao bì, rồi bóp vụn, nén thật chặt xuống đáy balô để mang được nhiều hơn. Cả bọn sững sờ nhưng lệnh là lệnh, từng tên một mở balô, nộp mì cho Bảy mà không hề biết lệnh “nộp mì” do Bảy tự đặt ra với mục đích dùng nó làm lương thực để bỏ trốn. Tổng cộng gom được một balô đầy.

Lợi dụng cả quyết đoàn đang vất vả luồn lách qua dãy núi đá, Lê Đình Bảy ôm balô mì, biến mất. Chưa hết, nhóm mở đường thuộc Quyết đoàn Tiền phương sau một hồi chui, bò trong những bụi rậm, thì không còn thấy Quyết đoàn trưởng Phan Thanh Phương đâu nữa. Kiểm điểm lại quân số, mất thêm cả Lê Trường Dũng, là cận vệ của Phương.

Tình hình càng lúc càng bi đát. Sự bỏ trốn của những tên chỉ huy được coi là trung kiên, cốt cán đã khiến tinh thần bọn phản động bệ rạc đến nỗi sau mỗi bước đi, chúng không còn bận tâm đến việc xóa dấu vết như những ngày đầu. Rải rác đây đó là những chiếc balô chứa truyền đơn, tài liệu của “mặt trận”, quần áo, bao đựng đạn.

Thậm chí, khi có kẻ gục xuống vì đói – như dân đoàn viên Nguyễn Văn Phẩm, chúng cũng chẳng buồn quan tâm, cứ để mặc Phẩm nằm đó, thoi thóp. Cứ vài tiếng, lại thêm một hay hai dân đoàn viên biến mất. Chúng biến mất không phải vì bỏ trốn, mà vì kiệt sức, không đi được. Các báo cáo của toán bộ đội trinh sát Lào sau đó cho thấy trên đường hành quân của chúng, nhiều xác chết trong đủ mọi tư thế, nằm rải rác dọc đường.

Có tên chết, trên tay vẫn còn cầm một nắm lá tàu bay. Lại có tên, miệng cắn chặt đuôi con rắn hổ trâu nhỏ bằng 2 ngón tay. Con rắn vẫn còn sống. Có lẽ khi bị gã dân đoàn viên cắn đuôi để ăn thịt, con rắn đã quay mình lại, mổ cho gã một phát.

Ngày thứ 19, những cuộc đột kích của bộ đội cách mạng Lào diễn ra thường xuyên hơn, bất kể sáng sớm hay nửa khuya, giữa trưa hay xế chiều. Có vẻ như lực lượng Lào không còn là một toán nhỏ, mà là những đơn vị lớn, được súng cối 61, 82 ly, sơn pháo 75 ly yểm trợ. Lúc này, bọn phản động chẳng nghĩ gì đến việc chống trả, mà chỉ tìm cách bỏ chạy thật nhanh, thật xa. Lại thêm một tên chỉ huy nữa, trúng đạn chết là Quyết đoàn phó Nguyễn Ngọc Cường – kẻ đã ăn gan Lê Văn Nguyên.

Tuy nhiên, cái chết làm cho cả bọn mất tinh thần nhất là cái chết của Trương Ngọc Ny. Vốn là cựu sĩ quan binh chủng nhảy dù của quân đội Sài Gòn, Ny giỏi đọc bản đồ, giỏi mưu sinh thoát hiểm, biết phân biệt lá nào, củ nào, trái nào có thể ăn cầm hơi, được Hoàng Cơ Minh giao nhiệm vụ điều phối cuộc xâm nhập, vạch kế hoạch hành quân, lập tuyến phòng thủ, tổ chức đánh trả. Ny chết, bọn phản động như rắn mất đầu dù rằng “cái đầu” Hoàng Cơ Minh vẫn còn đó…

Cái chết của Trần Khánh khiến Hoàng Cơ Minh mất tinh thần. Đây là lần đầu tiên, bọn phản động nhìn thấy Hoàng Cơ Minh mặt tái mét, tay run rẩy, mắt mở trừng trừng nhìn xác Trần Khánh.

Trong những ngày cuối cùng của “chiến dịch Đông tiến 2”, nhóm phản động Hoàng Cơ Minh chỉ còn chưa đầy 40 tên, hầu hết đều bị thương hoặc kiệt sức vì đói. Lương thực mang theo cạn kiệt nên nhiều tên dù muốn trốn, cũng chẳng biết về đâu. Hơn nữa, các bản án tử hình mà Hoàng Cơ Minh thi hành với đồng bọn khi phát hiện âm mưu đào ngũ đã làm bọn chúng kinh sợ.

Ngày tàn của bọn xâm nhập

Trước khi “chiến dịch Đông tiến 2” bắt đầu, Hoàng Cơ Minh quyết định giết bác sĩ Nguyễn Hữu Nhiều, Ngô Chí Dũng vì cho là chống đối, giết Trần Tuyết Ánh, A Hừng, Bùi Duy Hiền, Lưu Tuấn Hùng, Võ Sĩ Hùng, Đào Văn Lâm do nghi ngờ bỏ trốn, giết Thạch Kim Ca, Trần Tự Nhiên… vì nghi là nội gián.

Trên đường hành quân, Hoàng Cơ Minh còn cho các quyết đoàn trưởng, dân đoàn trưởng được quyền giết những tên thương binh như Nguyễn Văn Dũng, Nguyễn Anh Điền, Nguyễn Văn Hiếu, Nguyễn Văn Hòa…, hoặc bỏ mặc nằm chết giữa rừng để khỏi phải khiêng, cáng. Ngay cả Lê Hồng (bí danh Đặng Quốc Hiền), cựu trung tá nhảy dù quân đội Sài Gòn, được Minh phong làm “thiếu tướng, tư lệnh quân kháng chiến”, cũng bị Hoàng Cơ Minh giết vì đã dám chất vấn Minh về những mờ ám trong việc sử dụng tiền.

Sáng 24, nghĩa là đúng 1 tháng 6 ngày kể từ khi “chiến dịch Đông tiến 2” bắt đầu, bọn phản động tiến gần đến bản Phón, thuộc tỉnh Xa La Van. Đêm hôm trước, lại có thêm 3 tên bỏ trốn là Phạm Hoàng Tùng, Hà Văn Lâm và Đặng Quốc Hùng. Trốn khoảng nửa ngày, chúng gặp Nguyễn Văn Thông, cũng đang trốn nên cho đi cùng. Lúc đi hái măng, Phạm Hoàng Tùng bị lạc rồi bị bộ đội cách mạng Lào bắt sống. Hai ngày sau, 3 tên còn lại cũng vào trại giam.

Trở lại chuyện bản Phón, từ trên đỉnh núi nhìn xuống thấy mấy nóc nhà, Đinh Văn Bé, khi đó được đưa lên làm “quyết đoàn trưởng”, đã đề nghị Hoàng Cơ Minh cho 2 dân đoàn viên vào bản mua lương thực với mệnh lệnh “không mua được thì cướp”.

Tài sản duy nhất mà chúng còn lại là 5 chỉ vàng, do Hoàng Cơ Minh giữ, được lấy ra đưa cho Trần Văn Yên và Huỳnh Văn Miền. Cũng cần nhắc lại khi thành lập “mặt trận quốc gia thống nhất giải phóng Việt Nam”, bên cạnh hệ thống kinh tài là một chuỗi những tiệm “phở Hòa”, Hoàng Cơ Minh và bọn cầm đầu như Hoàng Cơ Định, Phạm Văn Liễu, Nguyễn Kim còn tổ chức nhiều đợt quyên góp trong cộng đồng người Việt hải ngoại dưới chiêu bài “ủng hộ kháng chiến”. Và nếu ai không đóng góp, thì bị bọn chúng chụp cho cái mũ “cộng sản nằm vùng”, rồi cho tay chân hành hung, hăm dọa, thậm chí ám sát mà cụ thể là giết vợ chồng nhà báo Lê Triết khi Triết cho đăng loạt bài vạch trần sự bịp bợm của “mặt trận Hoàng Cơ Minh”.

Tổng số tiền bọn Hoàng Cơ Minh thu được, theo số liệu của Cục Điều tra liên bang và Sở Thuế Mỹ sau này, là khoảng 10 triệu USD. Phần lớn số tiền ấy ngoài việc chui vào túi bọn cầm đầu, chúng còn dùng để ăn chơi, du hí ở Nhật, Pháp, Thái Lan, Đức bằng hình thức “đi công cán”, cũng như để mua lương thực, vũ khí, mua vàng cho các “chiến dịch Đông tiến”.

Sau khi “chiến dịch” bị đánh tan nát, Hoàng Cơ Minh phải đền tội, một số tên cầm đầu còn lại lặng lẽ lấy tiền chia nhau, mua cổ phần trong những công ty chứng khoán, hoặc lập những đội tàu đánh cá, và nó nghiễm nhiên trở thành tài sản riêng.

Cầm 5 chỉ vàng, Trần Văn Yên và Huỳnh Văn Miền xuống núi. Nhưng mới đi chưa được 50 mét, một loạt AK vang lên đanh gọn, khiến Trần Văn Yên chết ngay. Cùng lúc, tứ bề súng nổ giòn, cả tiếng AK lẫn tiếng đạn cối, đạn sơn pháo. Huỳnh Văn Miền lủi vào một hốc đá, giơ khẩu M16 lên đầu, bắn bừa. Ở phía trên, Hoàng Cơ Minh lăn xuống khe suối cạn, cánh tay trái máu tuôn xối xả vì mảnh đạn cối ghim phải. Trên ghềnh đá bên bờ suối, dân đoàn viên Tạ Hoàng Thiện lãnh nguyên một trái M79 nổ tung vào mặt.

Lẫn trong tiếng súng nổ, là tiếng quát gọi hàng của bộ đội cách mạng Lào. Trần Đế, Quyết đoàn phó Quyết đoàn Cải Cách dẫn 4 dân đoàn viên, vừa bắn loạn xạ, vừa lùi xuống khe suối cạn nơi Hoàng Cơ Minh đang nằm lăn lộn. Chưa kịp đặt chân xuống lòng suối lổn nhổn đá củ đậu, dân đoàn viên Nguyễn Văn Sĩ ngã bổ ngửa ra, máu từ ngực phun thành tia, còn dân đoàn viên Ngô Tấn Nghiêm, chân phải đứt tới háng, chỉ còn dính lại bằng mẩu da lủng lẳng. Cạnh đó, “ủy viên trung ương mặt trận” Trần Khánh nằm chết.

Khoảng 40 phút sau, tiếng súng im hẳn. Bọn phản động chết 6, bị thương 3, còn vài tên bỏ trốn hoặc chạy lạc. Thuốc men hầu như chẳng có gì nên cánh tay Hoàng Cơ Minh chỉ được băng bó bằng một miếng giẻ, xé ra từ chiếc khăn rằn quấn cổ. Kiểm điểm lại, chúng chỉ còn 26 tên trong đó 4 tên không vũ khí vì chúng đã vứt bỏ khi tháo chạy.

Đạn dược cũng thế, mỗi tên chỉ còn chừng 3 băng với vài quả lựu đạn. Bên bờ suối, tiếng rên của Ngô Tấn Nghiêm lúc nghe như con lợn bị chọc tiết, lúc chỉ ư ử trong cuống họng nhưng chẳng tên nào còn đủ tinh thần để kết thúc nỗi đau đớn cho mình.

Cái chết của Trần Khánh khiến Hoàng Cơ Minh mất tinh thần. Đây là lần đầu tiên, bọn phản động nhìn thấy Hoàng Cơ Minh mặt tái mét, tay run rẩy, mắt mở trừng trừng nhìn xác Trần Khánh. Là nhân vật thứ hai – chỉ đứng sau Hoàng Cơ Minh trong “chiến dịch Đông tiến”, phụ trách tâm lý chiến, Trần Khánh còn có bí danh là Trần Thiện Khải, một thời gian dài chỉ huy và điều hành đài phát thanh “kháng chiến” đặt trên đất U Bon, Thái Lan.

Tự nhận là mình có họ hàng với nhạc sĩ Trần Thiện Thanh, tức ca sĩ Nhật Trường, Khánh đã sáng tác một số bài hát nhằm lên dây cót tinh thần đồng bọn. Những gã bị bắt sau này cho biết, Trần Khánh có tác phong quân phiệt, thường xuyên la hét, đánh chửi “chiến hữu”. Trong suốt thời gian thực hiện “chiến dịch Đông tiến 2” cho đến khi chết, Khánh đã trực tiếp hạ lệnh cho các dân đoàn, quyết đoàn giết chết ít nhất là 7 tên đồng bọn bị thương, đồng thời bỏ rơi hàng chục tên khác khi thấy chúng kiệt sức.

Trời bắt đầu đổ mưa, cơn mưa càng lúc càng nặng hạt. Lợi dụng thời tiết, Hoàng Cơ Minh ra lệnh cho bọn phản động nhanh chóng rời con suối lúc này đã ngập nước, bỏ mặc 3 tên bị thương nằm lại với đất trời. Xẩm tối, chúng phát hiện ra một hang đá, cả bọn chui vào ẩn náu. Nếu không kể những tên từ Mỹ, Pháp, Nhật, Đức về, thì hầu hết dân đoàn viên đều là những tên vượt biên – trong đó không ít là các sắc lính quân đội Sài Gòn, vào trại tị nạn Sikhiu ở Thái Lan, rồi được Hoàng Cơ Minh tuyển mộ với lời hứa “sẽ cho đi định cư tại Mỹ” sau khi hoàn thành nhiệm vụ.
Nhưng đến giờ phút này, chẳng tên nào còn nghĩ đến giấc mơ được tới nước Mỹ, mà chỉ mong thoát khỏi vòng vây của bộ đội Lào. Trước lúc lên đường, chúng bóp nhỏ những gói mì, nhét xuống đáy ba lô. Thịt gà, thịt heo, chúng xé nhỏ, rang thật mặn rồi ém chặt. Bây giờ vét kỹ, còn được vài nắm nên chúng hứng nước mưa, nấu thành một thứ canh lõng bõng, chia nhau húp.

Mưa suốt cả ngày hôm sau. Và có lẽ cơn mưa cũng gây khó khăn cho bộ đội cách mạng Lào, nên chúng tạm thời yên ổn. Đói quá, một vài tên liều mạng bò ra ngoài, hái mấy mớ rau rừng về luộc. Tâm trạng tuyệt vọng khiến cả bọn hầu như chẳng còn suy nghĩ gì nữa. Chúng đốt lửa sáng rực, vừa để hong khô những bộ quần áo, vừa đỡ lạnh. Vết thương trên cánh tay nhiễm trùng khiến Hoàng Cơ Minh lên cơn sốt. Y nằm co quắp trong một góc, chẳng “chiến hữu” nào còn để ý đến y. Tất cả chỉ lo cho mạng sống của mình. Nhiều tên thì thào với nhau, rằng nếu bộ đội Lào đánh vào, chúng sẽ đầu hàng hết.

Sáng 28/8, trời tạnh. Khoảng 9 giờ, Hoàng Cơ Minh ra lệnh lên đường. Trước lúc di chuyển, y nói với đám tàn quân, rằng ai có thể quay về đất Thái thì cứ về. Chẳng phải y tốt lành gì nhưng có lẽ y nghĩ đến phát súng “ân huệ” của đồng đội khi cánh tay y sưng to vì nhiễm trùng, đi phải chống gậy. Nhưng về thế nào được nữa khi tấm bản đồ duy nhất, đã nằm cùng với xác Trương Ngọc Ny.

Cả bọn dò dẫm ra khỏi cửa hang. Sau cơn mưa, vắt xuất hiện nhiều vươn mình bám chặt vào những ống chân khẳng khiu, ghẻ lở, nhưng chẳng tên nào còn tinh thần đâu mà gỡ. Võ Hoàng, “Tổng thư ký hội văn nghệ sĩ mặt trận” kéo “dân đoàn trưởng” Võ Văn Tuấn lùi lại phía sau, vừa bước vừa hỏi nhỏ “Nếu quay lại Thái Lan thì đi đường nào, mất bao nhiêu ngày?”.

Tuấn dáo dác nhìn quanh như sợ có người nghe thấy, rồi vẫy “dân đoàn viên” Nguyễn Linh lên: “Hồi trước nghe nói mày có đi khai thác gỗ ở Lào phải không?”. Linh gật đầu: “Dạ. Em đi tuốt tới gần biên giới Thái Lan, rồi em chạy qua đó xin… tị nạn luôn” – “Vậy mày còn nhớ đường không?” – “Nếu đi đường từ Quảng Trị lên thì em nhớ, chứ đường này lạ quá. Thái Lan nằm ở phía Tây, là sau lưng mình…”. Võ Văn Tuấn gừ gừ trong cuống họng: “Thôi, nghe thì biết vậy thôi. Hó hé ra là mày chết trước. Từ bây giờ, mày đi sát với tao”.

9 giờ 30 sáng, trời không có nắng nên quang cảnh vẫn âm u. Đám tàn quân nặng nề lê bước nhưng không phải là tản ra theo đội hình vừa đi, vừa sẵn sàng nổ súng như những ngày đầu, mà co cụm lại với nhau. Qua một trảng cỏ tranh trống trải, chúng cũng chẳng buồn ngụy trang vì đối với nhiều tên trong bọn, cái chết lúc này chính là sự giải thoát, còn bị bắt thì coi như được sinh ra lần thứ hai.

Mặc dù Hoàng Cơ Minh đã tuyên bố cho phép đám phản động được trở lại đất Thái, nhưng chẳng tên nào dám công khai quay lưng bởi lẽ đường sá không rành, lương thực không có, lại thêm bộ đội cách mạng Lào lúc ẩn lúc hiện nên chúng chẳng còn cách nào khác hơn là bám theo bầy đàn. Sau này, trong trại giam, “dân đoàn viên” Nguyễn Văn Đức kể lại: “Kể cả Hoàng Cơ Minh, chẳng ai còn tinh thần và cũng chẳng ai có một tí hy vọng gì về cuộc “Đông tiến”.

Trước lúc lên đường, ông Minh nhiều lần thao thao bất tuyệt về các “khu chiến quốc nội”, về các “đường dây xâm nhập”, về các “trạm dưỡng quân” đã được thiết lập từ nhiều năm trước. Thực tế cho thấy Hoàng Cơ Minh chỉ giỏi nói dóc, đánh lừa…”.

Đi được chừng 1km, lúc cả bọn đang dò dẫm bước xuống những tảng đá trơn trợt, thì súng lại nổ. Võ Hoàng – “tổng thư ký hội văn nghệ sĩ mặt trận” bị một quả M.79 vào đầu. Nguyễn Văn Đẩu, tên còn khỏe nhất, đeo balô đựng quần áo, tài liệu của Hoàng Cơ Minh lĩnh nguyên một loạt AK vào bụng. Quyết đoàn phó Trần Đế vừa giương súng bắn bừa, vừa kéo Hoàng Cơ Minh, xuống con suối cạn, là điểm tiếp giáp giữa hai ngọn núi. Dân đoàn trưởng Đinh Văn Bé, có nhiệm vụ bảo vệ Hoàng Cơ Minh và Nguyễn Tấn Phát, “dân đoàn viên” nhỏ tuổi nhất, mới có 16 tuổi cũng vội vã lao theo.

Bộ đội cách mạng Lào tràn xuống tiếp tục bắn Dân đoàn phó Nguyễn Vĩnh Lộc trúng đạn, giãy đành đạch, dân đoàn trưởng Võ Văn Tuấn ngã gục như thân chuối bị phạt ngang. Biết là chẳng còn làm gì được nữa, Hoàng Cơ Minh rút khẩu súng ngắn Browning đeo bên mình, kê lên thái dương bóp cò tự sát.

“Ủy viên trung ương” Nguyễn Huy cũng tự sát. Riêng Lưu Minh Hưng, “ủy viên mặt trận” khi vừa buông chốt quả lựu đạn ra, định ném thì bất ngờ lựu đạn nổ. Cả nửa thân trên của Hưng chỉ còn là nhúm thịt bầy nhầy…

BĐCPĐ


Mạng Ký Giả: Cuộc thi viết với chủ đề Việt Nam - Đất nước - Con người

 




Bài liên quan

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Cùng chủ đề