Thế giằng co giữa các nước lớn trên Biển Đông

Mỹ và Trung Quốc đều coi việc tạo dựng vai trò chủ đạo và kiểm soát tuyến hàng hải trên Biển Đông là lợi ích cốt lõi. Trong khi, Nhật Bản và các quốc gia Đông Nam Á khác cũng muốn có vai trò quan trọng hơn tại đây.

Cuốn sách “Ảnh hưởng của sức mạnh trên biển với đối với lịch sử” của thượng tá hải quân Mỹ Alfred Thayer Mahan viết vào cuối thế kỷ 19 được cho là một trong những trước tác của phương Tây có ảnh hưởng lớn nhất đến giới hoạch định chiến lược Trung Quốc đương đại.

Mahan cổ súy cho quan điểm cường quốc cần được xây dựng trên cơ sở lực lượng hải quân hùng mạnh và phát triển nền thương mại thông qua kiểm soát tuyến đường trên biển.

Theo nhà nghiên cứu địa chiến lược Robert Kaplan, trong lịch sử, Mỹ từng vận dụng học thuyết trên để hiện đại hóa hải quân, đánh bật sức ảnh hưởng của Tây Ban Nha tại khu vực Trung, Nam Mỹ. “Điều này giúp Mỹ khống chế được tây bán cầu và sau này là ảnh hưởng đến tương quan lực lượng tại đông bán cầu”, ông cho biết.

Sự thật lịch sử trên nay được các nhà hoạch định chiến lược Trung Quốc coi là dẫn chứng thành công trong quá trình trỗi dậy của một cường quốc. Theo đó, Bắc Kinh muốn phát triển một lực lượng hải quân hùng mạnh, để thay đổi cục diện địa chính trị tại châu Á – Thái Bình Dương.

“Các nhà chiến lược quân sự của Trung Quốc rất thích nói về lý luận của Mahan, và họ coi đây là bí quyết thành công của phương Tây trong quá khứ”, BBC dẫn lời chuyên gia phân tích chiến lược Gary Li cho hay.

Trong mắt giới chiến lược Trung Quốc, Biển Đông không chỉ là vấn đề chủ quyền hay luật pháp quốc tế, mà quan trọng hơn là vai trò của Bắc Kinh trong trật tự quyền lực của khu vực, cũng như sự phồn vinh, thịnh vượng mà khả năng kiểm soát của nước này với tuyến đường hàng hải tại đây đem lại, đặc biệt sau khi Mỹ đưa ra chính sách xoay trục về châu Á.

Kể từ khi lên cầm quyền, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình luôn quán triệt quan điểm “Giấc mộng Trung Quốc” cũng là giấc mộng xây dựng quân đội hùng cường. Trong chuyến thị sát tàu khu trục Hải Khẩu năm 2012, ông từng tuyên bố rằng: “Quân đội phải kiên trì quan điểm thống nhất giữa quốc gia giàu mạnh và quân đội hùng cường, nỗ lực xây dựng, củng cố quốc phòng và quân đội”.

Vai trò của Mỹ

Trên vấn đề Biển Đông, thái độ và hành động của Mỹ là một trong những nhân tố quyết định cục diện tại đây. Điểm chung duy nhất giữa Washington và Bắc Kinh là cả hai nước đều coi khả năng kiểm soát biển là lợi ích cốt lõi của mình. Nhưng chính vì vậy, đây lại trở thành một trong những mâu thuẫn lợi ích lớn nhất giữa hai nước.

Cựu thủ tướng Singapore Lý Quang Diệu từng bình luận rằng: “Nếu như Mỹ không thể kiểm soát Thái Bình Dương, thì Mỹ sẽ không bao giờ có thể trở thành lãnh đạo của thế giới”.

Mỹ một mặt không muốn thể hiện rõ thái độ trên vấn đề chủ quyền tranh chấp giữa Trung Quốc và một số quốc gia Đông Nam Á, mặt khác vẫn tiếp tục tăng cường hợp tác an ninh với các nước này để đảm bảo vai trò chủ đạo của mình.

Trong chuyến thăm Việt Nam hồi tháng 8/2014, tướng Martin Dempsey, chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân Mỹ, từng tỏ rõ thái độ: “Mục đích chủ yếu của tôi đến đây không phải nhằm vào Trung Quốc, nhưng tôi có thể khẳng định rằng Trung Quốc phủ bóng lên các cuộc đối thoại”.

Mặc dù vậy, Bắc Kinh vẫn coi thái độ trên của Washington là mang tính bao vây, kiềm chế, đặc biệt sau chuyến công du bốn nước châu Á của Tổng thống Mỹ Barack Obama hồi tháng 4/2014.

Trong chuyến công du này, ông Obama lần đầu tiên công khai tuyên bố quần đảo tranh chấp Senkaku/ Điếu Ngư giữa Nhật Bản và Trung Quốc nằm trong phạm vi của hiệp định an ninh Mỹ – Nhật, đồng thời ký kết với Philippines một thỏa thuận tăng cường hợp tác an ninh trong thời gian 10 năm.

“Mỹ muốn trấn an đồng minh, đồng thời lại muốn không bị lôi kéo vào cuộc xung đột của khu vực, nhưng kết quả lại khiến Trung Quốc cho rằng Mỹ có ý định bao vây mình”, ông Gary Li nói. “Trung Quốc vì vậy mà có những phản ứng đáp trả”.

AFP dẫn lời chuyên gia về Việt Nam Carl Thayer cho rằng, việc Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương 981 trong vùng biển của Việt Nam, có một phần là nhằm phản ứng lại với chuyến thăm châu Á của Tổng thống Obama.

Các đối trọng khác

Biểu đồ so sánh mức chi tiêu quân sự giữa khối ASEAN và Trung Quốc trong giai đoạn từ 1989-2013. Đồ họa: IPR

Biểu đồ so sánh mức chi tiêu quân sự giữa khối ASEAN và Trung Quốc trong giai đoạn từ 1989-2013. Đồ họa: IPR

Mặt khác, sự trỗi dậy của quân đội Trung Quốc và hàng loạt động thái cứng rắn của quốc gia này những năm gần đây là nhân tố khiến các quốc gia láng giềng châu Á trở nên ngày càng lo lắng, bất kể mối liên hệ kinh tế mật thiết với Bắc Kinh.

“Trung Quốc đang khiến các quốc gia láng giềng hình thành nên một liên minh đối kháng”, ông Roilo Golez, cựu cố vấn an ninh quốc gia Philippines, bình luận. “Khi Trung Quốc tuyên bố tăng ngân sách quốc phòng, thì Nhật Bản và các nước khác cũng vậy”.

Theo Wall Street Journal, Philippines đã đặt hàng nhiều chiến đấu cơ của Hàn Quốc, trị giá khoảng 410 triệu USD, đồng thời dành ra gần 1,8 tỷ USD để mua sắm, cải tiến các khí tài hạng nặng trong hai năm tới.

Malaysia mua thêm một loạt máy bay chiến đấu mới và vừa nhận hai chiếc tàu ngầm đầu tiên trong lô đặt hàng từ Pháp với giá khoảng 2,2 tỷ USD.

Indonesia thì có kế hoạch triển khai một số tàu ngầm mới mua của Hàn Quốc và trực thăng vũ trang Apache tới gần các quần đảo mà họ cho rằng dễ bị Trung Quốc xâm phạm.

Nhật Bản lại đang thúc đẩy tiến trình sửa đổi Hiến pháp Hòa bình, để chuyển Lực lượng Phòng vệ thành quân đội chính quy và tăng ngân sách quốc phòng thêm 2%. Tokyo cũng đang củng cố quan hệ an ninh với các nước Đông Nam Á, nhằm đóng góp vai trò lớn hơn trong vấn đề an ninh Biển Đông, bởi lo ngại về nguy cơ Trung Quốc thống trị đường hàng hải mà các tàu chở hàng của Nhật thường qua lại.

“Có thể khẳng định tranh chấp trên Biển Đông sẽ còn tiếp diễn trong một thời gian dài, khó có thể tìm ra giải pháp trong thời gian ngắn”, ông Golez kết luận. “Điều này chắc chắn sẽ thay đổi cục diện địa chính trị và kinh tế trong khu vực”.

Liệu xung đột có nổ ra

Tuy nhiên, các nhà phân tích cũng cho rằng, một cuộc xung đột lớn tại Biển Đông là hoàn toàn có thể tránh được, dù tình hình khu vực trong những năm vừa qua có xu hướng tăng nhiệt.

Từ sau Thế chiến II, nền hòa bình của châu Á đã khiến khu vực dần trở thành trung tâm của nền thương mại quốc tế. Theo tạp chí Economist, hơn một nửa lượng hàng hóa thế giới mỗi năm đều đi qua Biển Đông, trong đó có một nửa lượng dầu thô mà Trung Quốc cần cho sản xuất và phát triển.

Kể từ sau khi mở cửa nền kinh tế hơn 30 năm trước đây, Trung Quốc là quốc gia hưởng lợi nhiều nhất từ sự phồn vinh của tuyến đường hàng hải trên Biển Đông. Chính vì vậy, những thay đổi trong cục diện an ninh tại châu Á – Thái Bình Dương, đặc biệt xoay quanh vấn đề Biển Đông, sẽ tác động trực tiếp đến nền kinh tế nước này.

“Tôi không tin rằng sẽ có xung đột trong những năm sắp tới”, chuyên gia Gary Li bình luận. “Đặc biệt với Trung Quốc, cái mất nhiều hơn cái được, trong khi tăng trưởng kinh tế đang chậm lại và kết cấu phát triển bên trong đang có sự điều chỉnh”.

Một cuộc xung đột trên Biển Đông được cho là có thể tránh khỏi do mối đan xen lợi ích giữa các quốc gia. Trong ảnh là cảnh đối đầu giữa tàu hải cảnh Trung Quốc và tàu của Philippines. Ảnh: AFP

Một cuộc xung đột trên Biển Đông được cho là có thể tránh khỏi do mối đan xen lợi ích giữa các quốc gia. Trong ảnh là cảnh đối đầu giữa tàu hải cảnh Trung Quốc và tàu của Philippines. Ảnh: AFP

VnExpress


Mạng Ký Giả: Cuộc thi viết với chủ đề Việt Nam - Đất nước - Con người

 




Bài liên quan

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Cùng chủ đề